Các loại nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng

Please log in or register to like posts.
Nghệ sĩ

Các mục chính:

I. Bộ dây

II. Bộ gỗ

III. Bộ đồng

IV. Bộ gõ

V. Các nhạc khí bổ sung.

Nội dung cụ thể trong comment.

(Sưu tầm: Các nhạc khí trong dàn nhạc giao hưởng – Hồng Đăng)

Download tài liệu.

Reactions

2
5
0
0
0
0
Already reacted for this post.

58 comments on “Các loại nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng

  1. I. BỘ DÂY Trong dàn nhạc giao hưởng, bộ dây là bộ cơ bản, thường nắm địa vị chủ đạo. Thành phần của bộ dây gồm có 4 loại: Violon, Violon Anto, Violoncell và Contrebass. Riêng Violon, số lượng hơn hẳn các loại kia, và được chia thành 2 nhóm: Nhóm Violon thứ nhất và Nhóm violon thứ hai. Các thủ pháp chính của bộ dây: Dùng archet kéo, bật bằng ngón tay, lấy sống lưng archet đập vào dây, dùng các dụng cụ giảm tiếng, có lúc đặt archet kéo ngay gần ngựa đàn hoặc lúc đặt archet nằm sát phía cần đàn. Âm sắc của các toàn bộ các nhạc khí trong bộ dây có tính đồng chất, hài hoà một cách tuyệt mỹ. Toàn bộ các nhạc khí là một sự nối tiếp ăn ý, từ những nốt thấp nhất đến nốt cao nhất. Do đó, trong trường hợp diễn một câu nhạc có tầm cữ rộng rãi, việc chuyển giao từ nhạc khí trầm lên nhạc khí cao, hay ngược lại, đều có thể thực hiện một cách dễ dàng. Bộ dây diễn cảm rất nhạy, biểu hiện các loại sắc thái, cường độ mạnh nhẹ đều tốt, thích hợp với đủ các loại tình cảm từ nhẹ nhàng, uyển chuyển đến những xúc động đột biến, quyết liệt, hùng mạnh. Âm thanh của bộ dây nói chung rất gần với âm thanh của giọng hát, có tính chất xướng ca, ấm áp, mềm mại, du dương, có tiếng ngân rung rất gợi cảm. Trong dàn nhạc giao hưởng, tính về số lượng thì bộ dây chiếm ưu thế tuyệt đối. Số lượng bộ dây càng đông đảo, âm thanh càng ấm áp, chặt chẽ, nhất là trong các sắc thái mạnh, bộ dây càng có khí thế. Trong các cỡ dàn nhạc khác nhau, số lượng các loại nhạc khí có thể là: – Dàn nhạc lớn: Violon thứ nhất (16 đàn ) – Violon thứ 2 ( 14 đàn ) – Violon Anto (12 đàn) – Violoncell (10 đàn) – Contrebasse (8-10 đàn) – Dàn nhạc trung bình: Violon thứ nhất (12 đàn ) – Violon thứ 2 (10 đàn ) – Violon Anto (8 đàn) – Violoncell (6 đàn) – Contrebasse (4-6 đàn) – Dàn nhạc nhỏ: Violon thứ nhất (8 đàn ) – Violon thứ 2 ( 6 đàn ) – Violon Anto (4 đàn) – Violoncell (3 đàn) – Contrebasse (2-3 đàn) Các loại nhạc cụ trong bộ dây được post dưới đây là theo thứ tự âm vực từ cao đến thấp: Violon, Violon Anto, Violoncell và Contrebass.

  2. 1. VIOLON Cách gọi khác: Vĩ cầm, Violino (Ý), Violnie (Đức), Xkrip ka (Nga), gồm bốn dây: Mi, La, Rê, Son. Violon và các đàn cùng ở bộ này luôn có kèm theo archet (tên khác: cung, vĩ – archet). Muốn thể hiện cường độ mạnh hay yếu, người chơi đàn phải dựa vào sự điều khiển cây vĩ của tay phải. Ngoài cây vĩ ra, người ta còn dùng một dụng cụ để giảm tiếng là sourdine. Suordine được cặp vào ngựa đàn cho âm thanh bé đi, như qua một màng mỏng, có cảm giác xa xăm, mờ ảo, có lúc hơi ảm đạm, nhưng tiếng sâu lắng hơn. Trong bốn loại đàn dây ở dàn nhạc giao hưởng, Violon giữ một giá trị rất quan trọng, không phải chỉ vì số lượng đông đảo mà là vì khả năng phong phú về kĩ thuật, kết hợp với những âm thanh ở âm vực cao của nó, vì vậy violon thường chiếm ưu thế về mặt diễn tấu gia điệu. Âm thanh của Violon đẹp rực rỡ, tươi sáng hơn các loại đàn dây khác, và cũng đủ khả năng để biểu hiện các loại tình cảm khác nhau, từ say sưa trìu mến, trữ tình đậm đà đến ranh mãnh, tươi tắn, có khi hơi kiêu hãnh, cũng có khi xáo động nhẹ nhàng. Trong dàn nhạc, Violon thường được chia làm hai nhóm: nhóm Violon thứ nhất và nhóm Violon thứ hai. – Nhóm thứ nhất: Lúc đi giai điệu, đảm nhiệm độc lập một cách vững vàng, âm chất thuần khiết, cũng có thể phối hợp với một vài loại nhạc cụ khác ở cùng bộ hoặc khác bộ tạo nên âm chất hỗn hợp, hiệu quả, đầy đặn hơn, có lực hơn. Violon có thể diễn tấu những giai điệu có tốc độ nhanh, hoặc chậm, khoan thai. – Nhóm thứ hai: vai trò không nổi bật bằng nhóm thứ nhất, thường sử dụng để đi bè có tính chất phụ hoạ với nhóm thứ nhất hay các loại nhạc khí khác.Hình minh họa cấu tạo:Posted ImagePosted Image

  3. 2. VIOLON ALTO (hay ALTO) Cách gọi khác: Viola (Ý), Pratsche (Đức), Ant (Nga) Về cấu trúc, Violon Alto không khác gì Violon lắm, kích thức hơi lớn hơn. Âm hưởng hơi trầm và tối hơn so với Violon, màu sắc Alto dịu dàng, kín đáo và nhũn nhặn, khiêm tốn. Âm sắc của Alto nghiêng về giọng nữ trầm, hơi mờ hơn âm sắc của Violon. Cũng như Violon, Alto bao giờ cũng kèm theo archet, và nếu dùng ngón tay bật trên dây đàn cũng chỉ là tạm thời. Đàn Alto theo cách nói đơn giản là một đàn Violon hơi phóng to ra một chút, để tạo nên một số nốt trầm mà Violon không thể có được. Do vậy, các thủ pháp kĩ thuật tương tự như Violon. Alto hơi nặng nề hơn, không linh hoạt, sinh động nhanh nhẹn như Violon được. Sourdine vẫn được dùng cho Alto tạo nên một cảm giác âm u, hơi rấm rứt, âm thanh có vẻ kịch tính. Trong dàn nhạc, vai trò của Violon Alto không nổi rõ bằng Violon. Về kĩ thuật thì hai loại đàn không khác xa nhau lắm và Alto có thể độc tấu trong mọi âm vực, nhưng trong dàn nhạc chỉ hay dung ở khoảng trung bình, được xem là cầu nối âm vực giữa Violon và Violoncell. Thường tham gia vào các bè đệm.

  4. 3. VIOLONCELLE Cách gọi khác: Violoncello hay Cello (Ý), Violoncell (Đức), Violonchen (Nga) Đàn Violoncelle có kích thước lớn hơn Alto nhiều, nên không thể diễn tấu bằng cách kẹp vào ngang cổ, mà phải có chân chống, đặt đứng xuống đất, chiều dài khoảng 130 cm, chiều rộng khoảng 43 cm. Âm sắc của Cello rất gần với giọng hát, mang dáng dấp nam tính, khi là tiếng nói của giọng nam cao suy nghĩ, khi là tiếng nói của giọng nam trầm cương nghị. So với các đàn dây khác, Cello gần giống với Violon hơn là Violon Alto, và Cello cũng giữ một vị trí quan trọng trong bộ dây không thua kém Violon. Trong việc sử dụng archet ở Cello, có một điểm khác biệt so với Violon và Alto. Ở Violon và Alto, archet luôn đè lên mặt dây và được đưa lên hoặc kéo xuống. Còn ở Cello, archet lại nằm ngang với mặt dây, và được đưa ngang. Vẫn có thể dùng sourdine như ở Violon tạo nên âm sắc giọng mũi, tuy nhiên nhiều người không muốn dùng. Trong dàn nhạc, Cello được dung để làm bè trầm, đi độc lập hoặc đi cùng với Contrebasse tạo nên hiệu quả âm thanh rắn rỏi, rành mạch, âm vang đầy đặn, nghiêm trang. Posted Image

  5. 4. CONTREBASSE Cách gọi khác: Contrebasso hoặc Basso(Ý), Kontrabass (Đức), Cont’rabatx (Nga). Đây là đàn có kích thước lớn nhất trong bộ dây, hơi nặng nề, dài khoảng 190 cm, rộng khoảng 60 cm. Archet của Contrebasse dầy hơn, rộng hơn, và nặng hơn archet của các loại đàn khác. Có 3 loại Contrebasse: loại 3 dây (hiếm dùng), loại 4 dây (thông dụng) và loại 5 dây (dùng trong các dàn nhạc lớn). Âm thanh của Contrebasse rất khác với âm thanh của các đàn dây khác. Các dây cao, tiếng hơi câm, nghiêng về giọng mũi, các dây trầm nghe không rõ rệt. Tiếng nói chung hơi thô, khỏe nhưng rè, cảm giác nặng nề. Trong dàn nhạc dây, Contrrebasse là loại nhạc khí trầm nhất, giữ bè trầm, làm nền cho toàn bộ. Posted Image

  6. II. BỘ GỖ (LEGNI) Bộ gỗ thường được chia làm bốn nhóm: – Nhóm Flute: Gồm có Flute, Flute Piccolo, Flute Alto (Flute Contralto) – Nhóm Ô-boa (Hautbois): Gồm có Hautbois, Haubois Alto (tức Cor Anglais), Haubois Baryton. – Nhóm Clarinette: Gồm có Clarinette, Clarinette Piccolo, Clarinette Alto, Clarinette basse, Clarrinette Contrebasse. – Nhóm Pha-gốt ( Fagott): Gồm có Fagott và Fagott trầm (Fagott basse). Nhóm Ô-boa và Fagott đầu miệng thổi dùng 2 dăm (Anche). Nhóm Clarinette chỉ dùng 1dăm, riêng nhóm Flute thì không dùng đến dăm mà chỉ có lỗ thổi trực tiếp. Âm thanh các nhạc khí thuộc bộ gỗ không thuộc loại đồng chất như bộ dây. Âm sắc của nhóm này khác hẳn với âm sắc của nhóm kia, và trong mỗi nhạc khí, có sự khác biệt rất rõ ràng giữa âm vực giữa với âm vực thấp hay âm vực cao. Sự khác nhau đậm nét đó làm cho toàn bộ khối kèn gỗ tưởng như khó khó lòng ăn ý với nhau một cách thật hoà thuận. Âm thanh của Ô-boa và Fagott có giọng mũi, có lúc hơi ảm đạm. Âm thanh Flute và Clarinette lại có tính chất tươi sang, nhẹ nhàng. Nói chung, âm thanh của bộ gỗ không được thật êm và cường độ cũng không được mạnh lắm, khó uốn theo những sắc thái thật phức tạp. Ngoài khả năng diễn tấu, bộ gỗ có thể giữ các chức năng khác như làm bè phụ hoạ, tiến hành hoà thanh, bổ sung bè trầm cho bộ khác.

  7. NHÓM FLUTE5. FLUTECách gọi khác: Flauto (Ý), Flöte (Đức) Đây là thành viên chủ yếu của nhóm Flute, là loại nhạc khí linh hoạt thường có thể chạy với tốc độ nhanh . Chơi Flute rất tốn hơi, với các nốt ngắn, Flute có thể thổi rất rõ nét. Flute thường được xem như một loại nhạc khí có tính chất kỹ xảo, nhanh nhẹn, sinh động. Âm thanh của Flute dịu dàng, trong suốt, mềm mại, nhiều chất thơ, có khi hơn xa xăm, huyền bí, thần tiên, có khi nhẹ nhàng trong sáng, dễ gợi một cảm giác khoan khoái, khoáng đạt của nông thôn. Trong dàn nhạc, Flute giữ chức năng đệm, tuy nhiên đôi khi Flute lại độc tấu một nét giai điệu với âm chất thuần khiết, không pha trộn với bất cứ loại nhạc khí nào tạo một cảm giác bao la hơn. Posted Image

  8. 6. PICCOLO Cách gọi khác: Flauto Piccolo, Ottavino, Piccolo (Ý), Kleine Flöte (Đức). Piccolo là thành viên của dàn nhạc lớn, còn dàn nhạc nhỏ thì hầu như không tham gia. Đây là nhạc khí có âm vực cao nhất trong toàn bộ dàn nhạc giao hưởng. Ở âm vực thấp, âm thanh của Piccolo không đẹp, ở giữa – âm thanh tươi sang và càng lên cao càng chói càng sắc, mạnh, tiếng không dịu dàng uyển chuyển có tính chất thơ như Flute. Âm thanh hơi mảnh do vậy rất ít khi người ta cho Piccolo đi độc lập, thường là phải bổ sung thêm một thứ nhạc khí nữa đi cùng cho tiếng chắc hơn. Kĩ thuật sử dụng Piccolo gần giống như Flute. Posted Image

  9. 7. FLUTE ALTOCách gọi khác: Flauto contralto (Ý), Alt Flöte (Đức). Đây là loại Flute trầm. Trước kia các loại nhạc cụ này rất được ưa dùng trong các các tác phẩm cổ điển châu Âu, âm sắc rất ngọt ngào, thú vị, rất tiếc là ngày nay ít được nhắc đến. Có thêm Flute Alto, bộ Flute mở rộng thêm được một số nốt trầmở dưới. Nếu giai điệu tiến hành trong một phạm vi rộng rãi mà chỉ muốn sử dụng âm thanh thuần chất của bộ Flute, người ta có thể sử dụng phương pháp chuyển giaotừ Piccolo sang Flute trong những giai điệu từ cao xuống thấp, hoặc ngược lại từ Flute Alto lên Flute chuyển dần sang Piccolo khi giai điệu từ thấp lên cao. Kỹ thuật của Flute Alto tương tự như ở Flute tuy có hơi kém linh hoạt hơn một chút. Posted Image

  10. NHÓM ÔBOA (HAUTBOIS)Nhóm Ôboa gồm có Ôboa và Ôboa Alto (tức kèn Co của Anh) là hai thành viên chính hay được sử dụng trong dàn nhạc giao hưởng. Ngoài ra còn có Ôboa barytông (Hautbois baryton) và Ôboa sôpranô (Hautbois soprano) ngày nay rất ít dùng trong dàn nhạc giao hưởng. Còn một Ôboa trữ tình (Hautbois d’amour) ngày nay cũng ít khi được nhắc tới. Các nhạc khí ở nhóm Ôboa dùng dăm kép (Anche Double), hơi thổi nặng, âmthanh có màu sắc riêng biệt dễ nổi hơn các loại khác, do đó nếu sử dụng trong dàn nhạc không khéo léo sẽ trở thành tránh lạc lõng, dễ chòi ra ngoài thiếu ăn ý với toàn bộ dàn nhạc. Posted Image

  11. 8. ÔBOA (HAUTBOIS) Cách gọi khác: Oboe (Ý), Hoboe (Đức). Flute là loại sáo thổi ngang còn Ôboa là loại kèn thổi dọc. Ôboa là loại nhạc khí có âm sắc giọng mũi, biểu hiện nội tâm tốt, có tính chất ca xướng, âm chất rất đẹp, không thiên về koại biểu hiện kỹ xảo nhiều như Flute hay Clarinette. Kèn Ôboa thổi nặng hơn Flute, nhưng ít tốn hơi hơn, do đó giai điệu dùng cho Ôboa có thể tương đối dài. Ôboa nhảy cách quãng xa không được nhạy như Flute, âm thanh phát ra cũng không được nhạy như Flute. Giai điệu dùng cho Ôboa thường không dùng những nét chạy nhanh, vì thổi nhanh rất mệt, tuy thế chạy gam và rải hợp âm vẫn dễ dàng và thuận tiện. Âm thanh của Ôboa bao giờ cũng có các tính, màu sắc đặc biệt, cảm giác trong sạch, thẳng thắn, đôi khi gợi luyến tiếc nhớ nhung. Kèn Ôboa là một thứ nhạc khí có lợi thế về diễn tấu giai điệu, nhiệt tình, sâu sắc, nên thường được dành cho những giai điệu khoan thai, lâng lâng và đẹp đẽ. Cũng có khi Ôboa được dùng trong vai trò hoà thanh đệm, nhưng do tiếng Ôboa dễ chòi ra ngoài nên phải hết sức dè dặt. Khi diễn tấu giai điệu, thường thì có thể Ôboa đi độc lập một mình, cũng có thể được hoà tấu cùng với một vài nhạc khí cùng bộ hoặc ở bộ khác. – Ôboa kết hợp với Flute: tiếng Flute sẽ giúp cho Ôboa dịu đi, ngọt ngào hơn, tiếng Flute cũng đậm hơn. – Ôboa kết hợp với Clairinette: hai loại âm sắc này pha với nhau rất tốt, ở âm vực cao, nghe phảng phất như tiếng kèn Trompet , tạo âm thanh như thúc giục, vui, kêu gọi phấn chấn. – Ôboa kết hợp với bộ dây: Âm sắc của đàn dây làm cho tiếng của Ôboa mượt mà và nhuần nhuyễn hơn.Posted Image

  12. 9. ÔBOA ALTO HOẶC COR ANH ( HAUTBOIS ALTO, COR ANGLAIS) Cách gọi khác: Corno Inglese (Ý), Englishes Horn (Đức) Loại kèn này là Ôboa Alto, nhưng thường gọi bằng tên thông dụng là kèn Cor Anh (Cor Anglais), tuy không phải cấu tạo toàn kim loại như loại kèn Cor thuộc bộ Đồng (thường được gọi là kèn Cor Pháp để dễ phân biệt. Miệng kèn Ôboa Alto hơn, khum tròn vào (miệng của Ôboa mở ra), đầu miệng dăm hơi uốn cong. Kèn này cũng thuộc loại dăm kép trong bộ kèn gỗ. Âm thanh của Ôboa Alto nghe hơi mờ mờ, như lọc qua một màng mỏng, đặc biệt gợi sự nhớ nhung, tiếng lại dễ chòi ra ngoài hơn cả tiếng Ôboa, do đó thường chỉ hay đi bè chính. Trong các tác phẩm cổ điển, ngày xưa có một số nhà soạn nhạc không dùng đến loại nhạc khí này, kể cả Bethoven, Shubert. Nhưng trước đó, Mozart và Haydn lại có dùng trong các tác phẩm “Divertimeti”, “La Finta Semplice”, “Ave Maria”… Ngày nay, Ôboa Alto tuy chưa phải là một thành viên cố định trong tất cả các cỡ dàn nhạc giao hưởng, nhưng nói chung các dàn nhạc lớn đều có sử dụng. Ôboa thường được dùng để tạo màu sắc độc đáo, do đó trong tổng phổ thường chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn, người chơi Ôboa đồng thời có thể sử dụng kiêm cả Ôboa Alto. Posted Image

  13. 10. ÔBOA TRỮ TÌNH (HAUTBOIS D’AMOUR) Kích thước của Ôboa trữ tình lớn hơn Ôboa thường, âm sắc nghe dịu dàng nhưng hơi lả lướt, nhiều nữ tính. Trước kia trong các tác phẩm khí nhạc của các nhà soạn nhạc cổ điển, nhạc khí này rất được ưa thích. (như J.S. Bach viết rất nhiều các tác phẩm có sử dụng đến Ôboa trữ tình) nhưng hiện nay càng ngày càng thấy hiếm dùng. Kỹ thuật thổi và tay bấm của Ôboa trữ tình giống hệt như ở Ôboa thường. Posted Image

  14. 11. ÔBOA BARYTON (HAUTBOIS BARYTON) Là Ôboa trầm trong nhóm Ôboa. Ít dùng trong dàn nhạc, thường được dùng để làm cầu nối giữa Ôboa, Ôboa Alto cùng với kèn Fagott. Âm thanh mãnh liệt nhưng hơi thô cứng. Trong dàn nhạc kèn quân đội, người ta còn gặp loại Ôboa soprano (Hautbois soprano) Posted Image

  15. NHÓM CLARINETTE Các nhạc cụ trong nhóm Clarinette đều sử dụng dăm đơn, bao gồm các loại Clarinette, Clarinette Piccolo, Clarinette Basse và Clarinette Contrebasse, trong đó Clarinette và Clarinette Basse hiện nay được sử dụng nhiều hơn. 12. CLARINETTECách gọi khác: Klarinette (Đức), Clarinetto (Ý). Clarinette có hình dáng tương tự Ôboa, chỉ khác ở miệng thổi, âm chất rất hay, phong phú, đẹp đẽ, nhiều kĩ xảo. Trong dàn nhạc, thường có 3 loại: Clarinette giọng Xi giáng, giọng La và giọng Đô, loại giọng Đô ít được sử dụng hơn. Tính chất của Clarinette giọng Xi giáng tươi tắn, sáng đẹp, âm hưởng nhịêt tình, lóng lánh, được nhiều người dùng Clarinette ưa thích, còn âm sắc của Clarinette giọng La ấm áp, ngọt ngào, dịu dàng, mềm mại hay được dùng nhất trong nhạc thính phòng. Ở âm vực trầm: Âm thanh của Clarinette gần giống tiếng còi nhà máy, khẩn trương, kịch tính, đặc và tương đối đẹp, tính chất hơi lạnh. Ở âm vực giữa: âm thanh không có đặc tính, thiếu ổn định, mờ đục, hơi xỉn. Đây là âm vực xấu nhất của Clarinette. Ở âm vực cao: Tính chất giọng nữ cao, rất đẹp, ít tốn hơi. Đây là âm vực đẹp nhất và dễ sử dụng nhất của Clarinette, người ta hay độc tấu ở âm vực này, thích hợp với mọi loại sắc thái khác nhau. Âm vực cực cao: Rất vang, nhưng chỉ dùng ở sắc thái mạnh, và chỉ sử dụng trong trường hợp cả dàn nhạc toàn tấu. Clarinette có sự khác biệt giữa các âm vực rất lớn, do đó với tiết tấu nhanh thì sẽ rất khó khăn. Clarinette còn là một trong những loại nhạc khí có thể khống chế cường độ rất tốt, có thể thay đổi từ mạnh sang nhẹ hay ngược lại rất nhạy, ít có thứ khác bì kịp, các loại kèn gỗ khác thường thua xa Clarinette về mặt này. Clarinette cũng có thể giữ hơi lâu như Ôboa. Loại Clarinette giọng Đô được dùng nhiều vào đầu thế kỉ XIX. Một số nhà soạn nhạc như Etienne Nicolas Mehul (1763-1817, Pháp), Fedinand Herold (1791-1833), Richard Strauss- nhạc sĩ Đức (1864) đã viết những phần độc tấu trứ danh cho nhạc khí này. Clarinette là loại nhạc khí nhẹ nhàng, linh hoạt, vận dụng sắc thái dễ dàng, âm thanh có tính chất thơ, thuần khiết nên hiệu quả dàn nhạc rất phong phú. Trong những dàn nhạc nhẹ thường Clarinette cũng đóng vai trò rất quan trọng. Trong dàn nhạc, Clarinette dùng để bè giai điệu chính, có thể diễn đạt tình cảm đằm thắm, sâu sắc, nhí nhảnh, tươi mát. Một số bản nhạc dùng Clarinette: – “Con gà vàng” của Rimski Korsakov (nhạc sĩ Nga, 1841-1908): Dùng cả Clarinette giọng Xi giáng và giọng La. – Bản “Giao hưởng kỳ ảo”( Symphonie Fantastique) của H.Berlioz. Posted ImagePosted Image

  16. 13. CLARINETTE BASSE Cách gọi khác: Bassklarinette (Đức), Clarinetto Basso. Clarinette Basse có hình dáng tương tự như kèn Saxophone, cũng có loa và miệng thổi uốn cong. Thường được sử dụng trong các dàn nhạc giao hưởng lớn. Clarinette Basse cũng có hai loại: loại Xi giáng và loại La. Vì Clarinette Contrebasse ít khi được sử dụng nên Clarinette Basse có thể xem như kèn trầm trong họ Clarinette, và có ưu điểm là ở phần trầm cũng có thể khống chế cường độ rất tốt, nên nếu so sánh 3 loại kèn cùng chơi giai điệu trầm tương tự. lúc cần sắc thái nhỏ dùng Clarinette Basse vẫn đẹp hơn Fagott hoặc kèn Cor. Tuy không nhanh nhẹn bằng Clarinette, nhưng âm thanh của Clarinette Basse sâu hơn, lắn hơn, hơi có tính chất huyền thoại, và dễ biểu hiện kịch tính. Các nhà soạn nhạc Meyerbeer (tác phẩm: Huguenots) và Vérdi (tác phẩm Aida) có thể xem là những người đầu tiên khai thác chất liệu quý này. Clarinette Basse có thể đi giai điệu trầm chính, cũng có thể đi bè phụ hoạ.Posted Image

  17. 14. CLARINETTE PICCOLO Cách gọi khác: Kleine Klarinette (Đức), Clarinetto Piccolo (Ý). Trong nhóm Flute có Flute Piccolo, trong nhóm Clarinette cũng có Clarinette Piccolo, nhưng Clarinette Piccolo không được sử dụng nhiều như Flute Piccolo. Trong thành phần dàn nhạc giao hưởng lớn, cũng chỉ thỉnh thoảng mới thấy Clarinette Piccolo, nhưng trong dàn nhạc kèn quân đội, Clarinette Piccolo lại rất hay được dùng. Clarinette Piccolo bé gần bằng nửa Clarinette thường. Âm thanh không ngọt ngào như Clarinette thường mà rít lên, nghe the thé, có tính chất căng thẳng, kích động. Trong dàn nhạc giao hưởng, Clarinette Piccolo ít khi đi giai điệu độc lập, vì bản chất âm thanh không được thật đẹp, tuy rất sắc và rõ nét. Posted Image

  18. 15. CLARINETTE ALTO Cách gọi khác: Alt Klarinette (Đức), Clarinetto Alto (Ý) Đây là loại kèn trung nằm giữa Clarinette và Clarinette Basse, ngày nay rất hiếm dùng. Trong một số tác phẩm giao hưởng cổ điển của Mozart có thể thấy nhạc cụ này như: “Cây sáo thần” ( Flute Enchantee) , “Kinh cầu hồn” (Requiem), “Lòng nhân hâụ của thần Titus” (Clémence de Titus) và Beethoven dùng trong “Thần Promete” (Promethee), Mendelssoln với 2 bản song tấu cho Clarinette Alto. Có thể dùng Clarinette để đi những giai điệu ở âm vực giữa, đậm đà hơn Clarinette, âm thanh tương đối đẹp. Cũng có khi Clarinette Alto dùng đệm cho một giọng hát, thường là ở âm vực trầm. Posted Image

  19. 16. CLARINETTE CONTREBASSE Cách gọi khác: Kontrabasse Klarinette (Đức), Clarinetto Contrebasse (Ý). Đây là nhạc khí trầm nhất trong nhóm Clarinette. Nó có thể dùng để thay thế cho Fagott trầm trong trường hợp cần sắc thái nhẹ. Nhạc cụ này rất hiếm dùng trong dàn nhạc tuy có khả năng xuống trầm hiếm có. Được dùng để phối hợp với các nhạc khí khác của dàn nhạc làm thành một bè trầm cho toàn bộ. Posted Image

  20. NHÓM FAGOTT Kèn Fagott còn gọi là kèn Basson. Nhóm này chỉ có hai loại: Fagott trầm và Fagott thường. Đây là nhóm nhạc khí trầm trong bộ kèn gỗ. Trong dàn nhạc giao hưởng, nhóm Clarinette là nhóm tham gia thời kì sau cùng, còn nhóm Fagott, nhóm Ôboa, nhóm Flute là những nhóm tham gia thời kì đầu tiên. Các nhạc khí trong nhóm này cũng thuộc loại dăm kép như nhóm Ôboa. 17. FAGOTT Các cách gọi: Fagott (Đức), Faggotto (Ý), Basson (Pháp) Kích thước của kèn Fagott lớn hơn rất nhiều so với Flute, Ôboa hay Clarinette. Âm thanh hơi tối, có thể gợi kịch tính, hoặc cũng có tính chất châm biếm, hài hước do âm sắc ít nhiều có pha giọng mũi. Kèn Fagott là thành viên cố định của dàn nhạc giao hưởng dù ở bất dàn nhạc lớn hay nhỏ. Tuy hình dáng cồng kềnh, nhưng Fagott là một loại kèn rất linh hoạt, có thể dùng lướt rất nhanh các kiểu chạy rải hợp âm. Nói chung có thể sử dụng tốc độ nhanh cho kèn, tất nhiên không linh hoạt được bằng Clarinette và Flute. Trong dàn nhạc giao hưởng, âm thanh của kèn Fagott cùng phối hợp với các nhạc khí trầm khác, thường làm nền cơ bản cho toàn bộ. Âm sắc châm biếm, đôi khi hài hước của kèn Fagott có thể dùng rất đạt trong các vở nhạc kịch hài (Opera Buffa) của Ý. Ngược lại Fagott cũng có thể diễn tả những nét đau thương, xót xa, ngậm ngùi hoặc nhịêt tình rung cảm sâu sắc. Âm sắc phần nào có tính chất trung tính (Neutre) nhưng rất đồng nhất, dễ phối hợp với các nhạc khí khác dù ở bộ gỗ, bộ dây, thậm chí cả với bộ đồng. Trong dàn nhạc, chúng ta thường gặp kèn Fagott đi cùng bè với đàn Cello làm nền trầm cho bộ dây và bộ gỗ, hoặc cũng có thể phối hợp với Cello lẫn đàn Contrebasse. Cũng có khi người ta phối hợp âm sắc giữa kèn Ôboa và Fagott hay Clarinette và Fagott để chơi giai điệu, nhất là việc phối hợp với Clarinette làm cho bè giai điệu rất ấm và rõ nét. Posted Image

  21. 18. FAGOTT TRẦM Các cách gọi: Kontrafagott (Đức), Contrafagotto (Ý), Contrebasson (Pháp) Trong dàn nhạc giao hưởng cỡ nhỏ và cỡ trung ít khi gặp loại nhạc cụ này, nhưng trong dàn nhạc giao hưởng lớn lại rất ưa dùng. Đây là nhạc khí trầm nhất trong bộ gỗ, cũng là nhạc khí trầm nhất trong toàn bộ dàn nhạc. Fagott trầm có kích thước đồ sộ, lớn gấp đôi kèn Fagott thường, thân chính có thể làm bằng gỗ hoặc kim loại. Thổi Fagott trầm rất tốn hơi, đòi hỏi phải có một bộ phổi khoẻ, nhất là những nốt ở âm vực trầm lại càng tốn hơi. Vì vậy Fagott trầm rất ít khi dùng để chạy những nét giai điệu nhanh. Fagott trầm được sử dụng để bổ sung cho âm vực trầm của Fagott. Posted Image

  22. III. BỘ ĐỒNG (OTTONI)Trong dàn nhạc giao hưởng, bộ Đồng gồm có bốn loại chính: kèn Cor, kèn Trompette, kèn Trombone và kèn Tuba, là những thành viên trong dàn nhạc giao hưởng nhỏ. (Dàn nhạc giao hưởng nhỏ ở đây mang nhiều tính chất dàn nhạc thính phòng, không cần tới một hiệu quả kích động, âm vang lớn, mà cần sự bố trí, phát huy một cách tinh tế các nhạc cụ bộ Dây, kết hợp với bộ Gỗ và một vài nhạc khí thông dụng trong bộ Đồng). Các nhạc khí trong bộ Đồng thường không linh hoạt được như các nhạc khí ở bộ Gỗ, nhưng âm thanh vang và âm sắc tương đối thống nhất hơn. Ở âm vực cao, nói chung tính chất tươi sáng, ở phần trầm – âm thanh hơi tối, đặc. Nếu diễn tấu ở sắc thái nhẹ, âm thanh cũng có khi mềm mại, ở sắc thái mạnh, âm thanh có hiệu quả thật mãnh liệt. Bộ Đồng thích hợp với các loại diễn cảm có sức mạnh, tính chất kêu gọi, hùng dũng (như ở dàn quân nhạc), không hay dùng cho các tác phẩm trữ tình, và càng hiếm với các loại thương cảm, bi thiết, sầu não đắm đuối. Nhạc khí bộ Đồng có điều thú vị là bản thân thuộc loại kèn, nhưng lại diễn cảm theo lối “tả tiếng kèn”: như làm tiếng kèn săn, tả tiếng kèn thu quân, xuất quân… Ngoài các loại trên, người ta còn thường gặp loại kèn Coócnê (Cornet à Pistons), gần như kèn Trompet nhưng âm lượng yếu hơn, không rực rỡ bằng Trompet. Khác với bộ Dây, bộ Đồng ít khí được dùng liên tục từ đầu tới cuối của một bản nhạc, thường có vai trò nổi bật, gây tác dụng kích động mạnh mẽ. Cũng có thể xem như bộ Đồng là một khối riêng bồi đắp vào cho sự gắn bó mật thiết giữa bộ Dây và bộ Gỗ một uy lực mới, cháy bỏng , bão táp, sôi nổi, thúc giục. Bộ Đồng thường góp tiếng nói quyết định của mình bằng ưu thế của nhưng hợp âm mạnh mẽ, đánh dấu những bước cao trào hoặc dẫn đến kết thúc. Nếu như để diễn tả cảm giác đau buồn, âm thanh của bộ Đồng vẫn mang những dáng dấp đường bệ, uy nghi, khác với phong thái khóc than sướt mướt, quằn quại. Ưu điểm lớn nhất của bộ Đồng là tạo nên sức mạnh vật chất, giàu kịch tính, rực rỡ, quả cảm, có thể xem là lực lượng dự trữ sẵn sàng để sử dụng cho những bước đột biến, có tính chất quyết định. Nhưng cũng do đó, biểu hiện tình cảm không đa dạng, phong phú, linh hoạt bằng các nhạc khí trong bộ Dây hoặc bộ Gỗ. Nguyên lý cấu trúc của các loại kèn đồng nói chung tương tự nhau, từ miệng thổi cho tới loa kèn, nên dễ đồng nhất hơn bộ Gỗ. Nhưng các nhạc khí thực ra không phải khoẻ hệt như nhau. Nếu sử dụng sourdine có thể làm cho âm thanh đồng biến chất, âm thanh phát ra hơi chậm hơn, khi chơi mạnh thì hơi thô, có cảm giác bị nén, căng thẳng, muốn phá vỡ, lúc thổi khẽ, nghe thuỳ mị, mất tính chất kim khí rực rỡ, nghe hơi xa xôi, có lúc ảm đạm, gần với âm thanh của Ôboa hoặc Ôboa Alto.

  23. 19. KÈN COR Các cách gọi: Walhorn hay Horn (Đức), Pháp (Cor), Corno (Ý). Trước đây trong dàn nhạc chỉ sử dụng loại kèn Cor tự nhiên, chỉ chơi được một số nốt thuộc chuỗi gam tự nhiên. Cho nên trong tổng phổ, người ta thấy xuất hiện rất nhiều loại kèn Cor thuộc nhiều giọng khác nhau: Cor Pha, Mi giáng, Rê, La,… Tác phẩm thuộc gọng nào phải dùng loại kèn Cor cho đúng giọng đó, điều này hạn chế nhiều đến cách viết, và những loại kèn Cor tự nhiên dần dần được thay thế cho Cor bán cung (Cor chromatique) có thể chuyển điệu một cách dễ dàng, sử dụng phong phú và thuận lợi hơn rất nhiều. Và Cor ngày nay dùng trong giao hưởng thường cố định là kèn Cor giọng Pha. Cor là loại kèn có âm chất đẹp, thi vị, cao thượng, khoan thai, giàu diễn tả, vừa mềm mại như tính chất của kèn gỗ,vừa cương nghị với tính chất kim loại của nhạc khí bộ đồng. Cũng có khi do âm chất của Cor, có người còn liệt vào loại kèn gỗ, tuy hoàn toàn cấu tạo bằng kim loại. Âm vực thấp nhất (mấy nốt cực trầm) phát ra âm thanh hơi nặng, không nhạy lắm, do đó thường chỉ được dùng quen dưới hình thức các nốt giữ kéo dài trong sắc thái nhẹ. Âm vực thấp: hiệu quả tốt hơn ở các nốt cực trầm, càng lên cao nghe càng đẹp tiếng và ổn định, sáng hơn. Âm vực giữa: rất phong phú, mềm mại, uyển chuyển. Đây là âm vực đẹp và dễ sử dụng nhất, rất phù hợp với các giai điệu trữ tình. Âm vực cao: Âm thanh sáng, hơi rẳn rỏi, nhưng thường ít dùng hơn, vì tiếng dễ bị vỡ, choé, tính chất hơi căng thẳng, khó thổi sắc thái nhẹ. Kèn Cor trong dàn nhạc thường hay đi thành từng cặp: 2 chiếc, 4 chiếc, 6 chiếc hoặc 8 chiếc … Ngoài ra, để tạo một hiệu quả âm thanh khác đi, người ta có thể dùng hình thức “hãm tiếng” bằng sourdine hoặc bằng tay người thổi cho vào loa. Sourdine của kèn Cor là một vật dùng gần giống hình thù một quả lê to đặt vào loa, làm cho âm thanh tự nhiên mảnh, mềm hẳn đi. Nhưng cách hãm tiếng bằng tay thường được ưa thích hơn vì vừa nhanh nhẹn hơn, lại vừa tạo được hiệu quả thú vị hơn. Nếu chơi với sắc thái nhẹ, âm hanh có tính chất xa xăm, phảng phất một dư vị nào đó hơi thần bí, một tiếng vọng từ xa mơ hồ. Nếu ở sắc thái mạnh, nốt bịt nghư hơi bị rít lên, quằn quại, nghẹn ngào. Ngày xưa, kèn Cor thường được sử dụng để mô phỏng tiếng kèn gọi săn thú. Giai điệu dành cho Cor thường gợi một cảm giác trong sáng, lâng lâng, có chất thơ, nhiều khi hơi buồn, hoặc cũng có thể hùng tráng, âm thanh chặt chẽ, cương nghị. Trong dàn nhạc, kèn Cor có thể được dùng để đi giai điệu chính một cách độc lập, hoặc kết hợp với các nhạc khí bằng cách đi đồng âm. Posted ImageSourdine của kèn CorPosted Image

  24. 20. TROMPETTE Các cách gọi: Trompet (Đức), Tromba (Ý), Trompette (Pháp) Đến giữa thế kỉ 19, người ta vẫn còn sử dụng loại Trompette tự nhiên, ống rất dài, chỉ chơi được những chuỗi cố định trong chuỗi gam tự nhiên, do vậy có rất nhiều kèn Trompette ở các giọng khác nhau. Sau này Trompette đã được cải tiến thành loại có thể sử dụng bán âm được, có thể chuyển điệu dễ dàng. Và hiện nay, ống kèn Trompette có rút ngắn hơn trước, được điều khiển bằng piston và chơi được tất cả các nốt. Đây là loại kèn linh hoạt nhất trong các loại nhạc khí bộ Đồng, có tiếng mạnh, chất kim loại rõ rệt, diễn cảm dứt khoát, có uy lực. Ở âm vực thấp: âm thanh của Trompette không được tròn đẹp ổn định lắm nên thường ít được sử dụng ở khoảng này. Âm vực cao: âm thanh hơi chói, kích động khó chơi và hơi nặng. Âm vực cực cao: âm thanh mất chính xác, không dày dặn, và hơi mất đặc tính. Trong khối kèn Đồng, Trompette là nhạc khí có âm vực cao nhất, âm thanh sáng chói, rực rỡ, đồng thời nhẹ nhàng, linh hoạt. Nếu cần lên cao hơn nữa, người ta sử dụng thêm kèn Trompette nhỏ. Có thể sử dụng thêm sourdine để tạo thêm hiệu quả âm thanh cho kèn Trompette, âm thanh tối lại, hiệu quả xa xăm, nghe phảng phất giọng mũi, gần với âm thanh của Ôboa lúc sắc thái nhẹ. Nếu dùng sourdine với sắc thái mạnh, âm thanh có vẻ nghẹn ngào, tạo một cảm giác bị nén căng, có khi hơi châm biếm, hài hước. Posted Image

  25. 21. PETITE TROMPETTE (TROMPETTE NHỎ) Các cách gọi: Kleine Trompet (Đức), Tromba soprano hay Tromba piccola (Ý), Petite Trompette (Pháp). Đây không phải là thành viên cố định, thường xuyên trong dàn nhạc giao hưởng, nhưng càng ngày càng được nhiều nơi ưa dùng vì có một ưu thế đặc biệtlà giúp cho người viết nhạc có thể phóng tay mở rộng lên âm vực cao một số nốt mà Trompette thường gặp khó khăn. Tất cả mọi thứ về kỹ thuật về bấm ngón cũng như điều khiển ở miệng đều sử dụng như loại Trompette thường. Người sử dụng cũng là nguời thổi Trompette thường. Posted Image

  26. 22. TROMPETTE BASSE, TROMPETTE ALTO và TROMPETTE SOPRANO Về kỹ thuật, tương tự như Trompette thường, nhưng có lợi thế là bổ sung được một số nốt ở âm vực trầm, hiệu quả mãnh liệt, hơi tối, đe doạ, uy hiếp. Nói chung, Trompette basse, Trompette alto và Trompette soprano đều là những loại nhạc khí tham gia có tính bất thường vào dàn nhạc, tuỳ theo yêu cầu của nội dung từng tác phẩm, không phải là thành viên thường xuyên cố định. Và không phải bất cứ dàn nhạc giao hưởng nào trên thế giới cũng đều có sẵn các nhạc khí loại này. Phải là những dàn nhạc thật quy mô, đồ sộ người ta mới có thể chuẩn bị đầy đủ các loại nhạc khí cần thiết. Trompette BassePosted Image

  27. 23. CORNET (Coócnê) Các cách gọi: Kornett hay Flügenhorn (Đức), Cornetto hay Flicorno soprano (Ý), Cornet à pistons, Bugle à pistons hay Saxhorn soprano (Pháp) Đây là một loại kèn tương tự như Trompette, nhưng tiếng yếu hơn, ấm hơn, không rực rỡ, tươi sáng bằng Trompette. Hình dáng kèn trông ngắn hơn Trompette, nhưng ống hơi đậm hơn. Về kỹ thuật , tương tự như Trompette. Cornet cũng không phải là thành viên cố định, thường xuyên của dàn nhạc nhưng xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm của các nhà soạn nhạc nổi tiếng thế kỉ 19. Posted Image

  28. 24. TROMBONE Các cách gọi: Posaune (Đức), Trombone (Ý), Trombone (Pháp) Kèn Trombone thường được thiết kế theo 2 kiểu: Trombone có piston (Trombone à pistons) và Trombone điều chỉnh cao độ bằng cách kéo dài hoặc rút ngắn ống hơi (Trombone à coulisse). Trong dàn nhạc giao hưởng, người ta chỉ dùng loại Trombone thứ 2 do âm chất hay hơn và sử dụng cũng thuận tiện hơn. Trombone thường được chia làm 3 loại: loại Alto, loại Teno và loại Basse. Loại hay dùng nhất hiện nay là loại Teno. Trombone coulissePosted ImageTrombone pistonsPosted Image

  29. 25. TROMBONE TENOR – Mấy nốt cực trầm: âm thanh tối tăm, đe doạ, chậm và nặng nề. – Âm vực trầm: âm thanh hơi tối. – Âm vực giữa: đây là âm vực tốt nhất của kèn, âm thanh vang, mãnh liệt. Có lúc âm thanh hơi gần với kèn Cor. – Âm vực cao: càng lên cao, âm thanh càng căng thẳng, càng mất tự nhiên. Kèn Trombone tham gia vào dàn nhạc giao hưởng, góp tiếng nói mãnh liệt của mình cùng với các những nhạc khí bộ Đồng trong những trường hợp đáng chú ý. Trombone có tính chất rắn rỏi, mạnh mẽ, có uy lực, không phải là nhạc khí dùng để chạy những giai điệu sinh động, tinh tế. Trong dàn nhạc, Trombone có thể được độc tấu với những giai điệu quả cảm, hùng tráng, mang tính chiến đấu diễn tả xung đột hay kêu gọi thúc giục. Ngoài ra, Trombone có thể tham gia cũng với các nhạc khí bộ Đồng khác vào những bước có tính chất quyết định, tăng cường độ dẫn đến các cao trào, bổ sung thêm việc gây kịch tính, nhấn mạnh tiết tấu. Posted Image

  30. 26. TROMBONE BASSE VÀ TROMBONE CONTREBASSETrong những dàn nhạc giao hưởng đồ sộ, còn có kèn Trombone basse và hiếm hơn nữa là kèn Trombone Contrebasse. Sự xuất hiện của 2 loại kèn này bổ sung cho bộ kèn Trombone nói chung có đầy đủ một lực lượng hùng hậu bằng ưu thế của phần trầm cũng như tự túc hoà thanh một cách có hiệu quả. Trombone bassePosted ImageTrombone ContrebassePosted Image

  31. 27. TUBA Các cách gọi: Basstuba (Đức), Tuba hoặc Saxhorn basse (Pháp), Tuba (Ý). Tuba là loại nhạc khí có kích thước lớm và âm hưởng trầm nhất trong bộ kèn Đồng. Các ống dẫn hơi từ miệng thổi cho ra đến loa to dài toàn bộ đến gần 5.5m. Thực ra đây là một trong những loại kèn thuộc họ Sax (gọi chung là Saxhorn), gồm có: Saxhorn soprano, Saxhorn contralto, Saxhorn alto, Saxhorn baryton, Saxhorn basse và Sarhorn Contrebasse. Nhóm kèn trên thường tham gia đầy đủ vào dàn nhạc quân đội, nhưng trong dàn nhạc giao hưởng chỉ có loại Tuba. Kèn Tuba xuất hiện cuối thế kỉ XIX, thay thế cho một loại kèn đồng trầm trước kia dùng phổ biến là loại Ophicléide. Âm thanh của Tuba nghe không hay bằng tiếng kèn Trombone, hơi thô, chậm và nặng nề. – Các âm cực trầm: âm hưởng không tốt lắm, dùng hơi thô. – Âm vực trầm: âm thanh dầy, chắc, nhưng hơi tối và nặng, chậm, sâu sắc. – Âm vực giữa: âm thanh đầy đặn, vang tốt, cảm giác đĩnh đạc, khoan thai, nghiêm trang. Âm thanh lúc bắt đầu vào nghe rất mượt, khỏ, kịch tính. – Âm vực cao: càng lên cao, âm thanh càng bị nén, ít dùng vì hiệu quả không hay, hơi căng thẳng. Thực tế, thổi Tuba không nặng nhọc lắm, nhưng tốn hơi. Thổi nhanh phát ra âm thanh không rõ nên chỉ thích hợp với những giai điệu trầm, chậm rãi, cũng không thể kéo được quá dài. Trong dàn nhạc, với tính chất trang nghiêm, có uy lực, nhiều khi gây giông bão, kịch tính, kèn Tuba tham gia với tư cách bổ sung cho phần trầm của khối kèn đồng cũng như của toàn bộ dàn nhạc, làm nền cơ bản cho toàn bộ khối lượng âm thanh có một trọng lượng đều đặn, khoẻ khoắn. Tuy khả năng sử dụng có phần hạn chế (ống dài, phát âm chậm, kỹ thuật sử dụng không được thật linh hoạt) nhưng kèn Tuba cũng có thể diễn tấu những giai điệu chậm. Và cũng như các nhạc khí khác của bộ Đồng, kèn Tuba vẫn thường hay tham gia vào những bước quyết định, có tính chất nhấn mạnh tiết tấu, dẫn đến cao trào, tăng cường âm lượng cho toàn bộ dàn nhạc. Posted Image

  32. V. BỘ GÕ (A Percussione)Sự xuất hiện của các nhạc khí thuộc bộ Gõ trong dàn nhạc giao hưởng thường không phụ thuộc vào một số lượng cố định. Do yêu cầu nội dung tác phẩm, do phong cách của từng nhà soạn nhạc, bộ Gõ có khi xuất hiện nhiều, có khi chỉ có mặt một vài nhạc cụ. Từ những thời kỳ đầu tiên của dàn nhạc giao hưởng, các nhạc khí của bộ Gõ đã tham gia dàn nhạc một cách tích cực, đặc biệt là cuối thế kỷ XIX, vai trò của nhạc khí gõ được phát hiện thêm, khả năng sử dụng bộ gõ càng thêm phong phú. Đặc biệt trong các tác phẩm có tính chất vũ đạo, bộ Gõ thường được tận dụng triệt để. Đã có nhiều nhà soạn nhạc sử dụng một cách khéo léo các nhạc khí bộ gõ, tạo nên những hiệu quả bất ngờ rất thú vị. Bộ Gõ có tác dụng gợi mầu sắc dựng những bối cảnh đặc biệt, kết hợp với các nhạc khí khác làm cho tiết tấu sắc nét hơn, và cũng có trường hợp bộ Gõ dùng độc lập tạo nên một không khí độc đáo. Các nhạc khí trong bộ Gõ được chia làm 2 loại: – Loại có thể định được cao độ: Timbales, Campanelli, Xilophone,… – Loại không định được cao độ: Triangle, Cymbales, Grosse Caisse,… Thời gian xuất hiện của bộ Gõ trong toàn bộ tác phẩm thường không nhiều lắm, có khi chỉ trong một vài đoạn nhất định, thậm chí có những tác phẩm chỉ cần điểm qua sự có mặt của bộ Gõ, rồi dứt hẳn cho đến cuối cùng. Thường thì bộ Gõ xuất hiện ở những bước ngoặt có tính chất chất quyết định của tác phẩm, có những chỗ dẫn đến cao trào, tăng thêm cường độ hoặc cường độ nhấn mạnh. Khác với các nhạc khí khác, có một số nhạc khí bộ Gõ không cần đến khuông nhạc, và không cần phải biểu hiện một đường nét giai điệu, dù là sơ lược, mà chỉ cần biểu hiện bằng các hình thức ghi trường độ theo những tuyến tiết tấu nào đó. Âm sắc của các loại nhạc khí Gõ thường dựa vào 3 chất liệu chính: phát âm bằng màng da như các loại trống, phát âm có mang tính kim loại và phát âm mang tính chất gỗ. Sử dụng bộ Gõ có khi cũng dùng bàn phím, nhưng thông thường hơn là dùng dùi gõ. Cũng có trường hợp tự rập vào nhau để tạo nên âm thanh, cũng có khi kết hợp cả 2 cách trên. Bộ Gõ tham gia vào dàn nhạc giao hưởng thường dễ tạo nên những màu sắc địa phương đậm đà. Và trong bộ Gõ, người ta cũng thấy sự xuất hiện của một vài loại có nguồn gốc từ phương Đông: cồng, chũm choẹ,… Lịch sử xây dựng dàn nhạc giao hưởng là cả một quá trình dài chọn lựa biến đổi và thay thế các loại nhạc khí, cũng như thành phần của mỗi bộ. Bộ Gõ lại càng chịu ảnh hưởng nặng của nguyên lý đó, vì mãi cho tới nay, thành phần biên chế của bộ Gõ cũng chưa phải định hình hoàn chỉnh như các bộ dây, kèn gỗ hay kèn đồng.

  33. 27. TIMBALES Các cách gọi: Pauken (Đức), Timbales (Pháp), Timpani (Ý) Trong bộ gõ , Timbales là loại được sử dụng nhiều nhất. Đây là loại trống thường sử dụng từ 2 – 3 chiếc trở lên hợp thành nhóm có thể do 1, 2 hoặc 3 người điều khiển. Mỗi người sử dụng mấy chiếc một lúc, trung bình là 3-4 chiếc. Trong các tác phẩm phức tạp có thể có đến 6 – 8 chiếc, thậm chí 12 chiếc (rất hiếm). Trống Timbales được thiết kế hình nửa quả cầu, phần dưới tròn, mặt trên có căng da. Mặt da càng lớn âm thanh càng trầm. Gọi là trống định âm vì mỗi trống có cao độ nhất định, mỗi trống chỉ chơi được một nốt. Trước khi chơi, người ta điều chỉnh lịa mặt da để có đúng cao độ cần thiết. Việc điều chỉnh này hơi mất thì giờ, bằng cách phổ biến là: dận bàn đạp hoặc vặn ốc để cho mặt da căng lên hoặc trùng xuống. Khác với loại trống khác, vì có khả năng định được cao độ nên Timbales vẫn dùng đến khuông nhạc. Dùi gõ trống thường có hai đầu khác nhau, một đầu mềm có thể sử dụng sắc thái khẽ, một đầu cứng có thể sử sụng sắc thái mạnh, biến đổi cường độ khá lớn nên có thể sử dụng linh hoạt, và không phải lúc nào cũng chỉ thuần tuý gây tác động kích thích kêu gọi, mà còn có thể tạo những bối cảnh âm u, mờ ảo hoặc hơi gợn sóng, lúc sắc thái cực mạnh, có thể gây giông tố, sấm sét, kích động mãnh liệt. Trống định âm đã có một thời kỳ được dùng làm bè trầm cho bộ Đồng, vào giai đoạn kèn Tuba chưa xuất hiện, nhưng cách dùng còn hạn chế nên chỉ đủ để chơi chủ âm và át âm, còn bè trầm thực tế là do đàn dây Contrebasse đảm nhận hết. Số lượng trống định âm tham gia vào dàn nhạc gia hưởng càng nhiều thì khả năng tạo một giai điệu trầm độc lập càng phát triển phong phú. Không phải chỉ với vai trò tạo hình bằn tiết tấu, trống định âm có thể tham gia tích cực vào việc bổi bổ cho bè trầm của toàn bộ dàn nhạc hoặc tạo các bối cảnh có nhiều kịch tính như gây sấm sét, tạo nên một nền đen đe doạ, âm u kích động, hoặc cũng có thể góip tiếng nói dõng dạc, có uy lực trong các hành khúc quân đội, hoặc nhộn nhịp. Trống định âm tham gia vào việc chuẩn bị cao trào rất đắc lực, có thể tạo một hiệu quả thôi thúc, căng thẳng, đòi hỏi.Posted Image

  34. 28. CAMPANELLI Các cách gọi: Glockenspiel (Đức), Jeu de clochettes hay Glockkenspiel (Pháp), Campanelli (Ý). Campanelli (đàn chuông phiến) là được xếp trong loại bộ Gõ có cao độ. Bộ phận chính của đàn bao gồm một dãy thanh kim loại kích thước gần bằng nhau xếp thành 2 hàng, âm sắc gần giống tiếng chuông. Campanelli được thiết kế theo 2 cách khác nhau: một loại dùng 2 dùi gõ (dùi gõ cũng bằng kim loại) và một loại khác dùng hệ thống búa và bàn phím theo kiểu kiến trúc Piano nhưng đơn giản hơn (trông như một đàn Piano nhỏ). So sánh 2 loại thì âm sắc loại dùng gõ nghe trong hơn và thú vị hơn, nhưng loại dùng bàn phím thì sử dụng được linh hoạt và nhiều kiểu hơn (nhất là về mặt tạo nên hợp âm phong phú hơn ) nhờ mô phỏng kỹ thuật của Piano. Nếu là loại dùng bàn phím, kỹ thuật chơi có thể nhanh tương tự Piano, nhưng thực ra không mấy nhà soạn nhạc viết nhanh, vì âm sắc của đàn này nghe hơi chói, nghe nhanh dễ làm mệt tai. Âm sắc của Campanelli loại dùng gõ nghe tiếng rất trong, sáng lóng lánh như bạc, và nghe thánh thót ngân nga. Âm sắc của loại dùng bàn phím nghe đanh và khó chơi hơn, độ ngân cũng kém hơn. Campanelli tham gia vào dàn nhạc thường chỉ với tác dụng tạo màu sắc trang trí, không phải là tác dụng gây ấn tượng tiết tấu. Giai điệu dùng cho đàn này cũng không dùng tốc độ thật nhanh, thường chỉ khoan thai, có tính chất tô điểm cho một vài nét ngắn của giai điệu, gây một cảm giác thoáng mát, yên tĩnh, trong sạch. Campanelli có thể kết hợp rất ăn ý với các loại nhạc khí có âm vực cao, đặc biệt là với các loại Flute, đàn Harp, hay đàn Violon dùng pizzicato. Campanelli loại dùng bàn phímPosted ImageCampanelli loại dùng dùi gõPosted Image

  35. 29. CELESTA Các cách gọi: Celesta (Đức, Ý), Célesta hay Piano de Mustel (Pháp). Celesta là một loại đàn có có bàn phím, hình thức như một thứ Piano nhỏ, nói cách khác là một loại Campanelli dùng bàn phím, không dùng dùi gõ. Khi nhấn tay lên phím, tác động đến các búa gõ đến các thanh kim loại. Âm thanh của Celesta tạo một cảm giác yên tĩnh, thoáng mát. Cường độ âm thanh của đàn nói chung hơi yếu. Đàn Celesta không phải là thành viên cố định thường xuyên trong dàn nhạc giao hưởng, thường chỉ xuất hiện với tác dụng gây mầu sắc. Với tính chất nên thơ, dịu dàng, âm chất trong suốt, mềm mại, tế nhị, Celesta thích hợp với cảm giác cao thượng, ngây thơ, trong sạch hoặc tạo không khí thần thoại. Đàn Celesta kết hợp rất tốt với âm sắc của đàn Harp. Posted Image

  36. 30. VIBRAPHONE Các cách gọi: Vibraphon (Đức), Vibraphone hay Clarillo à lames (Pháp), Vibrafono (Ý). Vibraphone gồm những thanh kim loại rộng, sắp đặt thứ tự các thanh thành một dãy các nốt tự nhiên, một dãy các nốt có dấu hoá, xen kẽ cả hay dãy thành chuỗi âm bán cung. Kỹ thuật sử dụng là dùng 4 dùi gõ cho hai tay để có thể chơi được hợp âm hoàn chỉnh. Đây là loại nhạc cụ mới tham gia vào dàn nhạc giao hưởng. Âm thanh gần như âm thanh của đàn Celesta hoặc Campanelli nhưng âm thanh khoẻ hơn song lại không trong trẻo bằng. Đặc điểm là âm thanh phát ra luôn ngân rung kéo dài một cách tự nhiên (Do đó lấy tên Vibraphone – do chữ Vibration có nghĩa là sự rung động, chấn động). Đàn Vibraphone có một bàn đạp, có thể làm cho âm thanh hoàn toàn mờ đi, kết hợp rất hay với âm thanh pizzicati của các nhạc khí bộ dây trong mọi sắc thái. Posted ImagePosted Image

  37. 31. CAMPANA Các cách gọi: Glocke (Đức), Cloches (Pháp), Campana (Ý). Khác với đàn Vibraphone, Campana có một dãy ống kim loại xếp cạnh nhau theo thứ tự bán cung, gõ bằng đũa kim loại. Âm sắc có hơi khác với âm sắc những thanh kim loại trong đàn Campanelli. Trong các loại nhạc khí bộ gõ có cao độ nhất định, thì loại đàn này là thứ hiếm gặp nhất, chỉ dùng trong những biên chế dàn nhạc thật lớn trong một số ít tác phẩm. Âm thanh đĩnh đạc, trang nghiêm, gợi một không khí cổ kính, khoan hoà. Posted Image

  38. 32. XYLOPHONECác cách gọi: Xylophon (Đức), Xylophone (Pháp), Silofono hoặc Xilofono (Ý). Xylophone (đàn phiến gỗ) bao gồm nhiều phiến gỗ có cao độ sắp xếp theo một trình tự nhất định, phát âm bằng dùi gỗ gõ lên các phiến đó, khác với Campanelli là các phiến kim loại và gõ bằng dùi kim loại. Âm sắc của Xylophone nghe khá độc đáo, hơi khô khan, rõ tiếng gỗ, sắc nhọn và không thể ngân vang, có cảm giác hơi rỗng, lạnh. Xylophone ít được sử dụng trong trong các tác phẩm giao hưởng, tuy có âm sắc riêng độc đáo, vì dùng không đúng chỗ hoặc dùng quá lâu nghe dễ chán tai. Thường thì đàn phiến gỗ chỉ được sử dụng loáng thoáng có tính chất trang trí mầu sắc. Posted Image

  39. 33. MARIMBA Các cách gọi: Marimba, Xylorimba, Silorimba (Đức, Pháp), Marimba (Ý). Đây là loại nhạc khí gõ bằng thanh gỗ, biến thể của loại đàn Xylophone trước kia quen dùng cho các dàn nhạc Jazz, nhưng lâu nay đã tham gia một số tác phẩm giao hưởng hiện đại của Châu Âu. Nhờ vào bộ phận cộng hưởng đặt dưới các thanh gỗ, âm thanh của đàn này có thể ngân rung nhiều hơn âm thanh của đàn phiến gỗ thông thường, và nghe không cộc như tiếng của đàn phiến gỗ. – Âm vực trầm: dùng dùi gỗ mềm (vì dùi gỗ ở đây sẽ phát thêm nhiều âm bồi, làm cho tai nghe khó lòng nhận được âm chính). Âm thanh tựa như của đàn Celesta phần trầm và có cảm giác hơi ướt. – Âm vực giữa: âm thanh tốt, dùng dùi gõ nửa mềm. – Âm vực cao: dùng dùi gỗ (vì dùi mềm ở đây không đủ sức phát ra tiếng được. Âm thanh hơi thô, chắc. Posted Image

  40. 34. TRIANGLE Các cách gọi: Triangel (Đức), Triangle (Pháp), Triangolo (Ý) Triangle còn gọi là “Thanh tam giác”, là nhạc khí thuộc bộ gõ chỉ có một âm nhất định, và không tính cao độ. Đây là một thanh kim loại uốn thành hình tam giác, có một góc không dính vào nhau, mỗi chiều dài khoảng 20cm, treo lên một sợi dây, dùng gõ bằng một đũa kim loại, gõ vào các thành của nhạc khí. Có thể đánh rời từng tiếng hoặc đánh liên tục nhanh. Vì không sử dụng đến tuyến cao độ, nên thông thường không dùng khuông nhạc, chỉ ghi bằng các hình thức trường độ trên một dòng kẻ nhạc. Cũng có trường hợp được ghi trên khuông nhạc nhưng thực ra không cần thiết phải vận dụng tới khuông nhạc như vậy. Tuy không có cao độ nhất định nhưng Triangle được coi là loại nhạc cụ có âm vực cao, vì âm thanh trong trẻo tươi tắn, gây một cảm giác xanh mát, dịu, có lúc ngời sáng. Triangle rất được ưa thích trong các tác phẩm có tính chất vũ đạo hoặc cũng có thể ở các đoạn của tác phẩm có tính chất nhẹ nhàng, tươi vui, rộn ràng. Ở sắc thái nhẹ, tiếngâm vang, rõ nét, dịu. Ở sắc thái mạnh, âm thanh sáng chói ngời lên như bạc. Triangle có thể kết hợp với bộ Dây, bộ Gỗ thậm chí cả bộ Đồng cũng đều rất tốt.Posted Image

  41. 35. TAMBURIN Các cách gọi: Tamburin (Đức), Tambour de basque (Pháp), Tamburino (Ý) Đây là một loại trống nhỏ, có thể coi như thuộc vào loại âm vực trung của bộ Gõ, tuy là thứ nhạc khí gõ không được sử dụng cao độ. Có người gọi là trống lắc hay trống lục lạc vì ở phía trong trống có căng 3 dây kim loại đeo những chuông lục lạc nhỏ để rung. Tamburin có những nẹp tang trống bằng kim loại, chỉ có một mặt trống bằng da có đường kính chừng 30-30cm. Bên tang trống có đinh ốc để vặn căng mặt da. Người sử dụng cầm trống tay trái, lấy tai phải gõ voà mặt trống bằng đầu ngón tay, cùi tay hoặc có khi miết ngón taycái hay gõ bằng lòng bàn tay. Cũng có thể đeo dây da quàng qua cổ, để có thể gõ hai tay trong trường hợp tiết tấu phức tạp. Nếu cường độ mạnh, có khi đặt trống lên đầu gối hay lên ghế, gõ bằng tay hoặc dùi trống nhỏ. Âm sắc của Tamburin có tính chất kim loại, do tác động của các chuông nhỏ đính ở trong. Nhạc khí này xuất xứ từ những giai điệu nhạc nhảy có tính chất dân gian của vùng Tân Cương và cả ở Tây Ban Nha. Tính chất linh hoạt, vui tươi mang nhiều màu sắc hội hè, vũ đạo. Tamburino kế hợp tốt với các loại đàn dây và các loại kèn gỗ. Posted ImagePosted Image

  42. 36. TAMBOUR MILITAIRE Các cách gọi: Kleine Trommel (Đức), Tambour Militare (Pháp), Tamburo militare (Ý). Tambour cũng có thể được gọi là trống nhà binh, hay trống con, là một thứ trống nhỏ quen dùng trong dàn nhạc quân đội. Tambour tham gia vào dàn nhạc giao hưởng, có ưu thế là có thể biểu hiện được những hình thức tiết tấu phức tạp phong phú, sinh động. Tambour dùng 2 dùi gõ bằng gỗ. Kích thước lớn hơn Tambourin, mặt da có đường kính từ 40-60cm, tang trống cũng bằng kim loại cao khoảng 15cm, có 2 mặt da, một mặt có căng các sợi kim loại sát vào mặt da. Mỗi lần đánh trống, âm sắc lại có tiếng hơi rè đặc biệt, do tác động của sợi kim loại rung lên mặt da . Âm thanh trầm hơn. Tambourin, âm sắc vang và rõ nét. Tambour có ưu điểm là tiết chế sắc thái rất giỏi, có thể từ cực mạnh đến cực yếu. Ngoài hiệu quả âm thanh thông thường cũng có lúc người ta sử dụng cách bịt tiếng theo cách thức: – Để một mảnh dạ lên mặt trống – Không đánh vào mặt da mà đánh vào dây kim loại đè chùng xuống mặt da. – Một dùi trống đè lên mặt da không cho tiếng ngân vang và gõ bằng dùi kia. Trong dàn nhạc giao hưởng, thường cũng chỉ dùng một chiếc Tambour nhỏ, không mấy khi dùng đến 2 – 3 chiếc, và cũng không phải là thành viên cố định thưưòng xuyên của dàn nhạc giao hưởng. Trong dàn nhạc quân đội, lúc hành quân, duyệt binh, người sử dụng trống thường đeo trông lên ngang trước bụng bằng quai da, mặt trống để ngửa lên trời di dộng một cách rất thoải mái. Tambour kết hợp rất tốt với các nhạc khí ở bộ Đồng, bộ Gỗ, ở cả các độc tấu nhỏ hoặc hoà tấu từng bộ phận. Posted Image

  43. 37. GROSSE CAISSE Các cách gọi: Grosse trommel (Đức), Grosse caisse (Pháp), Gran cassa (Ý). Grosse caisse tức trống lớn thường để trên giá gỗ, kích thước khá to, có 2 mặt da, đường kính khoảng 70cm. Có một loại ít dùng hơn chỉ có một mặt da. Trống này bao giờ cũng kèm theo dùi gỗ, một đầu có bịt da hay dạ mềm. Grosse caisse dùng ở dàn nhạc quân đội lúc di động không thể để trên giá gỗ mà có thể mắc dây mang dọc trước ngực người diễn tấu. Âm thanh của Grosse caisse vào loại trầm và cũng không có cao độ, nên chỉ ghi trên một dòng kẻ, không cần đến khuông nhạc. Cũng nhiều trường hợp sử dụng trống này với Cymbales, cùng nằm ở phách mạnh như nhau, tiết tấu giống hệt nhau. Âm thanh của Grosse caisse thường giúp rất lớn vào việc nhấn mạnh trọng âm của bè trầm, có thể kết hợp tốt với âm vực trầm của đàn Contrebasse và trống định âm. Grosse caisse âm thanh hơi nặng nề, đĩnh đạc, trong một số trường hợp sắc thái lớn có thể gây bão táp, kích động mạnh, giúp vào việc tạo cao trào, kịch tính cao cho tác phẩm. Posted Image

  44. 38. Cymbales Các cách gọi: Becken (Đức), Cymbales (Pháp), Piatti hay Cinelli (Ý) Cymbales (hoặc chũm choẹ) là một đôi đĩa lớn bằng kim loại, kích thước 2 đĩa bằng nhau, có đường kính từ 30 – 50cm, phần giữa đĩa có một cái núm, đúc dầy hơn, đường kính khoảng 10cm. Giữa núm có mắc một vòng dây da để cầm đĩa. Cũng như các loại nhạc khí không có cao độ khác, Cymbales chỉ cần ghi bằng các hình thức trường độ trên một dòng kẻ, không cần dùng đến khuông nhạc. Cymbales thường được chơi bằng 2 cách sau: – Dùng dùi gõ từng tiếng, khi đó chỉ cần 1 đĩa, thường là treo lên bằng một sợi dây. Âm sắc lúc dùng dùi trống và dùng của Triangle có khác nhau. Do chất liệu các loại dùi trống đều bằng gỗ nên âm sắc dịu, thường thích hợp với sắc thái nhẹ, êm, dùi của Triangle bằng chất liệu kim loại, âm thanh nghe lanh lảnh, chói vang hơn dùi gỗ. – Dùng 2 đĩa rập vào nhau mà không dùng dùi gõ. Thủ pháp này trong những đoạn kích động với sắc thái khoẻ, thường có tác dụng rất lớn. Tạo một hiệu quả mãnh liệt, huy hoàng, sấm sét, người diễn tấu phải cầm vòng dây da để rập đĩa. Trong dàn nhạc giao hưởng, Cymbales cũng vẫn không phải là một thành viên thường xuyên cố định, thời gian xuất hiện cũng không lâu lắm, vì âm sắc đó nghe dễ mệt tai, căng thẳng. Posted Image

  45. 39. TAMTAM (CỒNG, CHIÊNG)Các cách gọi: Tamtam (Đức, Pháp, Ý), Cồng, Chiêng (Việt Nam). Đây là một thứ nhạc khí bộ gõ xuất xứ từ phương Đông và đến nay đã có vị trí trong dàn nhạc giao hưởng quốc tế. Từ trước tới nay, Cồng dùng trong dàn nhạc giao hưởng quốc tế chỉ có một chiếc, được liệt vào nhạc khí gõ không có cao độ, bằng kim loại hình lòng chảo, đường kính khoảng 110cm, treo trên một giá khung lớn. Viết cho Cồng, người ta chỉ dùng dòng kẻ chứ không dùng tới khuông nhạc. Người diễn tấu thường dùng dùi của trống lớn hoặc có lúc là dùi của Triangle. Tiết tấu cho Cồng thường rất đơn giản, tuy có khả năng diễn tấu một số âm hình phức tạp, rất ít khi dùng những hình thức tiết tấu có tính chất tiểu xảo. Âm thanh của Cồng thường kéo dài ngân nga, tạo một dư vị rất lâu. Cồng xuất hiện trong các tác phẩm giao hưởng không nhiều, có khi trong toàn bộ tác phẩm chỉ tham gia một vài tiếng rồi nghỉ hẳn cho đến cuối. Thực ra nghe Cồng nhiều khi tạo một ấn tượng hơi tối tăm, ảm đạm (ở sắc thái nhẹ). Nhưng hiện nay, người ta có thể sử dụng Cồng phong phú hơn nhiều. Nếu tập hợp được một loại Cồng có các kích thước khác nhau, Cồng sẽ biến thành nhạc cụ có cao độ, gây được những hiệu quả về màu sắc cũng như về tiết tấu và cao độ rất bất ngờ. Và lúc đó viết nhạc cho Cồng phải ghi bằng khuông nhạc, chứ không phải chỉ dùng dòng kẻ. Posted Image

  46. 40. Castagnettes Các cách gọi: Kastagnetten (Đức), Castagnettes (Pháp), Castagnetti (Ý). Nhạc khí gõ này bằng gỗ, thực ra đây là một loại mõ dùng trong dàn nhạc, nguồn gốc gắn liền với các điệu nhảy Tây Ban Nha. Castagnettes gồm 2 quả nắm gỗ hình uốn cong, đầu có đính sợi dây, khi biểu diễn, người sử dụng cầm trong tay phải, cho hai mảnh gỗ rập vào nhau. Người ta có thể sử dụng được nhiều kiểu tiết tấu rất linh hoạt cho thứ nhạc cụ này. Và cũng như các nhạc cụ gõ khác không có tính cao độ, Castagnettes không cần dùng tới khuông nhạc, chỉ cần dùng một dòng kẻ. Tuy là loại nhạc khí không có cao độ, nhưng Castagnettes vẫn gây một cảm giác nhạc khí có âm thanh cao, hoà hợp rất tốt với các nhạc khí ở bộ gõ khác như Triangle, trống Tambourino. Không những Castagnettes được dùng trong các dàn nhạc giao hưởng mà nó còn tham gia vào dàn kèn đồng quân đội, và dàn nhạc toàn kèn (bộ Đồng và bộ kèn Gỗ), cả ở trong những dàn nhạc có tính chất thính phòng. Castagnettes cùng với các loại nhạc khí bộ Gỗ khác, thường vẫn có tác dụng gây màu sắc, cũng như tạo hình tượng rộn rịp, đặc biệt là trong các tác phẩm có tính chất vũ đạo. Posted Image

  47. V. CÁC NHẠC KHÍ BỔ SUNG Dàn nhạc giao hưởng càng ngày càng phát triển, và các nhà soạn nhạc của từng thời đại đều muốn ứng dụng thêm những loại nhạc khí mới dể làm phong phú thêm cho tác phẩm của mình. Cùng với sự cải tiến nhạc khí, một số lôại xét ra không còn phù hợp nữa đã bị thay thế. Có nhiều loại nhạc khí thời gian đầu tiên chưa được biết tới, qua một thời gian dài thử thách đã được bổ sung vào dàn nhạc giao hưởng và có những đóng góp rất đáng kể. Dần dần những nhạc cụ đó trở thành thành viên thường xuyên hoặc gần thường xuyên của dàn nhạc giao hưởng. 41. HAZPE Các cách gọi: Đàn Hạc (Việt Nam), Harpa (Đức), Hazpe (Pháp), Arpa (Ý) Hazpe có một lịch sử rất lâu đời, nhưng mãi tới cuối thế kỷ XIX mới được chấp nhận vào thành phần chính thức của dàn nhạc. Cũng có một giai đoạn rực rỡ của Hazpe, cuối thế kỷ XIIX, Hazpe được dùng rất đắc lực trong việc đệm cho các nữ danh ca trong âm nhạc thính phòng của các dạ hội quý tộc châu Âu. Người ta vẫn quan niệm đàn Hazpe là một loại nhạc khí nữ tính, lúc biểu diễn ở sân khấu các nhà hát, thường dành cho các nữ diễn viên. Sở dĩ như vậy vì Hazpe thường mang một tính chất thơ nhuần nhị, thanh tao, duyên dáng ít có nhạc khí nào sánh kịp, nên Hazpe còn được gọi là “nàng thơ của âm nhạc”. Đây là một loại đàn thuộc loại dây gảy, kích thước hơi cồng kềnh, toàn bộ đàn hình tam giác, phía trên là một đường khung uốn cong uyển chuyển, cao khoảng hơn 1,8m. Các dây đàn mắc thẳng đứng từ trên xuống, nối liền với đường khung ở dưới (đường khung là hộp cộng hưởng của đàn để làm cho âm thanh vang), đồng thời liên hệ chặt chẽ với với một hệ thống bàn đạp có tác dụng gây lên dây hoặc xuống dây theo từng bậc bán cung. Để cho người chơi đàn dễ nhận nốt trên đàn, các dây đàn của Hazpe đều có màu sắc riêng biệt. Các dây Đô bao giờ cũng là màu đỏ, dây Pha màu xanh, các dây còn lại đều màu vàng. Âm vực của Hazpe rất rộng, tất cả các dây đàn đều nối liền với một hệ thống bàn đạp gồm 7 bàn đạp. Đồng thời với động tác của các ngón tay vuốt lên dây đàn, người chơi đàn Hazpe phải sử dụng rất linh hoạt các bàn đạp với đôi chân của mình: chân trái điều khiển 3 bàn đạp, chân phải – 4 bàn đạp. Gảy đàn Hazpe phải dùng cả hai tay, mỗi tay dùng bốn ngón (trừ ngón út). Âm thanh của Hazpe không vang khoẻ được như ở Piano, nếu cần trong dàn nhạc có thể sử dụng 2, 3 hoặc 4 Hazpe. Hazpe không phải là nhạc cụ có âm vang mạnh mẽ. Ở dàn nhạc lớn, nếu cường độ mạnh, có khi phải dùng tới 3-4 Hazpe mới nghe rõ. Cũng có người dùng thêm móng gẩy bằng kim loại để cho âm thanh khoẻ và sắc nét hơn. Hazpe không chuyên để chơi giai điệu chính, mà chỉ có tính chất trang sức, tạo bối cảnh trữ tình, thiên về những tình cảm nhẹ nhàng, trong sáng, thi vị hơn là để gây kịch tính. Posted Image

  48. 42. MANDOLINE Các cách gọi: Mandoline (Pháp), Madolina (Ý) Đàn Mandoline là cây đàn trong gia đình họ hàng đàn Luths (gồm có các loại Théobre, Luths, Mandore), có nguồn gốc Ý. Đàn có 2 loại: một loại gọi là Mianaise (xuất xứ từ thành Milan) một loại khác là Napolitaine (xuất xứ từ thành Naple / Napoli). Đàn Mandoline kiểu thông dụng (Napolitaine) gồm có 4 dây kép. Âm thanh nói chung trong trẻo, gợi một cảm giácvui tươi, nhẹ nhàng. Ở âm vực cao gần cuối, tiếng nghe hơi tức, không được thoải mái đẹp như ở âm vực giữa. Kỹ thuật chính của tay phải là kỹ thuật sử dụng móng gảy bằng nhựa hoặc bằng sừng. Mandoline là thứ nhạc cụ linh hoạt có khả năng chơi các giai điệu trong sáng, nhẹ nhàng, đi liền bậc hoặc đi cách quãng, tuy nhiên nốt không thể ngân vang lâu. Trong dàn nhạc không hoàn chỉnh, Mandoline có thể đóng góp một cách rất đắc lực. Ngoài ra Mandoline còn được sử dụng trong nhiều dàn nhạc gẩy gồm Mandoline và Guitar ở Tây Ban Nha, Ý và miền Trung nước Pháp. Nói chung âm thanh của Mandoline có tính chất trẻ trung, hồn nhiên, có thể phối hợp tốt với các loại đàn dây, Hazpe và các loại nhạc cụ ở bộ Gỗ (Flute, Ôboa, Clarinette..) Posted Image

  49. 43. GUITAR Các cách gọi: Gitarre (Đức), Guitare (Pháp) Có hai loại đàn Guitar, một loại gốc hoàn toàn Tây Ban Nha và một loại gốc ở đảo Hawaii. Loại đàn guitar cổ nhất tìm thấy ở Tây Ban Nha Loại Guitar gốc Tây Ban Nha là loại đàn tham gia nhiều cỡ dàn nhạc, trong đó có cả dàn nhạc giao hưởng. Đây cũng là loại nhạc khí ở bộ dây gảy, hoặc bằng ngón tay, hoặc bằng móng gảy. Dùng móng gảy thì âm sắc vang hơn nhưng không chơi được nhiều cách như lối chơi trực tiếp bằng ngón tay. Đàn Guitar có 6 dây, âm thanh rất trữ tình và dễ gợi cảm giác như một đàn Hazpe nhỏ, nhiều lúc say sưa, duyên dáng, nhưng nhiều lúc cũng rất sôi động, mạnh mẽ. Guitar có thể chơi các nốt nhắc lại, người chơi dùng hai ngón tay liên tiếp thay đổi gảy trên một dây. Chơi hợp âm rải là một thủ pháp thuận lợi nhất đối với Guitar. Guitar còn có thể sử dụng âm bồi, âm thanh trong sáng, cảm giác yên tĩnh, hơi xa xăm. Những nhà soạn nhạc của thời kỳ cổ điển thường sử dụng Guitar như một nhạc khí đệm và thường là đệm rất tốt cho hát, như vở nhạc kịch “Người thợ cạo thành Seville” của G.Rossini, “Oberon” của Weber. Hiện nay Guitar đóng một vai trò quan trọng trong dàn nhạc Jazz, cũng như dàn nhạc nhẹ và dàn nhạc thính phòng khác. GUITAR HAWAIIGuitar Hawaii cũng có hình dạng tương tự Guitar Tây Ban Nha, cũng có 6 dây nhưng nó không cần có phím. Người chơi dùng 1 thanh (khối) kim loại (bằng đồng, inox, …) ở tay trái chặn trên cần đàn để tạo nên các phím. Độ dài ngắn của đoạn dây đàn bị chặn sẽ tạo ra các nốt. Guitar Hawaii chơi rất nhiều âm bồi vì độ dài dây đàn có thể thay đổi được, và các bồi âm ấy du dương hơn tiếng Guitar Tây Ban Nha. Việc di chuyển thanh kim loại trên cần đàn tạo ra tiếng đàn nghe như tiếng sóng, tiếng gió (đặc trưng cho những âm thanh vùng biển Hawaii, Tay phải để gẩy có 1 bộ 4 móng (chắc như móng của chị em chơi đàn tranh) lắp vào 4 ngón: cái, trỏ, giữa, nhẫn. Chỉ có mỗi tư thế chơi đàn là có vẻ không đẹp, không lãng tử như Guitar Tây Ban Nha vì đàn đặt ngửa trên đùi người chơi. Guitar Tây Ban Nha ( Guitar cổ điển ) Posted ImageTư thế chơi Guitar HawaiiPosted Image— HẾT —

  50. Hí hí :nono: yêu Táo thía :devil: Trong lúc Táo làm topic này chẳng dám ho he , đợi hết mới dám comment :kiss: Lúc nào rảnh vào nghiên cứu dần ;;) Có khi Pine cái này lên nhể :huhu:

  51. Trời ơi.. bài viết hay quá ahm!! Đọc xong mới biết trong dàn nhạc giao hưởng có nhiều nhạc cụ hay quớ… thix nhât là bộ gõ…

  52. Cám ơn bài viêt Các nhạc cụ trong giàn nhạc giao hưởng :matungtung: Bài viết rất hay, thía mà hôm nay mình mới tìm được. Thanks tác giả nhiều nhe :matungtung: . Thích nhất vẫn là Guitar. Không biết nhạc cụ nào được mệnh danh là vua của dàn nhạc giao hưởng nhỉ. :matungtung:

  53. Topic này xưa quá rồi có ai bàn tán nữa đâu mà.Hôm rồi T' tìm lại để sửa link ảnh thôi.

Leave a Reply